Người đàn ông quỳ giữa phố vì bà lão ăn xin — rồi một chiếc khăn cũ mở toang 27 năm thất lạc-thuyhien

Bàn tay bà dừng giữa không trung, run nhẹ như chiếc lá khô mắc lại trong gió nóng của cuối ngày. Tiếng còi xe vẫn dội vào ngã tư từng đợt ngắn, gắt và chói, nhưng trong khoảng không nhỏ giữa tôi, con bé và người phụ nữ già kia, mọi âm thanh như bị phủ một lớp bông dày. Tôi nhìn chằm chằm vào đôi môi nứt khô của bà. Rồi bà gọi một cái tên.nn”Minh.”nnKhông ai gọi tôi như thế suốt hơn hai mươi năm qua, ngoài mẹ.nnĐầu gối tôi ghì chặt xuống nền xi măng nóng. Một luồng nóng rát chạy thẳng từ cổ lên tai rồi tụt xuống ngực nhanh đến mức tôi phải chống một tay xuống đất mới giữ được thăng bằng. Con gái tôi đứng phía sau, những ngón tay nhỏ bấu vào vai áo tôi. Bà lão nhìn tôi thêm một lúc, như đang lần từng nét cũ trên gương mặt người đàn ông trước mặt. Rồi mắt bà lấp lánh nước.nn”Cái nốt ruồi dưới cằm…” bà thì thào, giọng vỡ vụn. “Hồi nhỏ con hay khóc khi mẹ bế qua chợ.”nnTôi không nói được. Tôi chỉ chụp lấy bàn tay gầy guộc ấy. Da bà mỏng như giấy, lạnh bất thường dù mặt đường còn hầm hập hơi nóng. Mùi khói xe, mùi bắp nướng, mùi mồ hôi người đi đường, mùi nước cống cũ bốc lên từ miệng cống ngay sát lề đường cùng lúc ập vào mũi. Và bên dưới tất cả những thứ đó, khi tôi cúi sát hơn, còn có một mùi quen đến tàn nhẫn — mùi dầu gió trộn với gừng cũ, giống hệt căn bếp của mẹ ngày xưa.nnCó những ký ức không chết. Chúng chỉ nằm im, chờ đúng một mùi, một âm thanh, một cái chạm để bật dậy nguyên vẹn.nnMẹ tôi từng bán xôi trước cổng trường. Mỗi sáng, bà dậy từ 4:10 a.m., vo nếp bằng nước giếng lạnh, nhóm bếp than, cắt lá chuối trên chiếc thớt gỗ đã nứt một đường chéo. Những ngón tay bà luôn có mùi gạo mới, mùi khói bếp và mùi gừng. Mùa mưa, bà cột vạt áo lên cao, bế tôi lội qua đoạn đường ngập. Mùa nắng, bà lấy khăn ướt lau cổ cho tôi trước khi vào lớp. Tôi nhớ chiếc quạt bàn kêu rè rè trong căn bếp nhỏ, nhớ tiếng muôi nhôm chạm thành nồi, nhớ cách bà hay dùng cổ tay trái chặn nắp nồi vì tay phải cầm vá. Cái vết bớt hình lá khô trên cổ tay trái luôn ló ra mỗi lần bà làm thế.nnRồi năm tôi mười hai tuổi, mẹ nói bà phải lên thành phố vài hôm để tìm người quen trả lại số tiền đã vay sau đợt cha tôi bệnh nặng. Bà đi trên chuyến xe sớm, mặc chiếc áo nâu cũ, mang theo túi vải xanh đựng hai bộ đồ và một chiếc khăn tay có thêu chữ H ở góc. Đó là khăn của bà ngoại để lại. Mẹ hứa ba ngày sẽ về.nnBà không trở về nữa.nnNhững ngày đầu, tôi với dì Hai đi bến xe hỏi từng quầy vé. Tuần sau, cậu Tư lên thành phố dán giấy tìm người ở các trạm xe, cổng chợ và bệnh viện. Một tháng sau, người lớn bắt đầu hạ giọng khi nói chuyện trước mặt tôi. Ba bảo có khi mẹ bị lừa. Dì bảo có khi bà bỏ đi nơi khác vì nợ nần. Có người còn chặc lưỡi nói phụ nữ một mình lên thành phố thì biết đâu mà lần. Tôi giữ im lặng, nhưng mỗi tối vẫn để cửa trước hé một khoảng nhỏ, tin rằng chỉ cần không khóa chặt, mẹ sẽ bước vào.nnNăm sau nữa, ba mất vì tai biến. Tôi sống với dì. Căn bếp cũ bị dỡ đi. Cái ghế nhựa mẹ hay ngồi bị nứt chân rồi bị quăng mất. Chỉ có cái khăn tay thêu chữ H là không ai tìm thấy. Tôi đã từng nghĩ nếu tìm được nó, có lẽ mình còn giữ lại được một phần nào đó của mẹ.nn”Bố… có phải bà nội không?” con bé hỏi sau lưng tôi, giọng nhỏ đến mức phải cúi đầu mới nghe rõ.nnTôi quay lại nhìn con. Mắt nó đỏ hoe, nhưng vẫn cố nín. Đám đông bắt đầu tụ lại thành một vòng không kín. Một người phụ nữ cầm túi siêu thị đứng lại, một bác xe ôm tắt máy, hai sinh viên dừng giữa lề đường. Có điện thoại đã được giơ lên. Một cơn xấu hổ lạnh buốt chạy qua gáy tôi. Không phải xấu hổ vì mình quỳ giữa phố. Mà xấu hổ vì mẹ tôi đã ngồi ở góc này bao lâu, dưới hàng trăm ánh mắt lướt qua, trong khi tôi sống chỉ cách đây chưa đầy bốn cây số.nnTôi cởi áo khoác, quấn lên vai bà. Bà khẽ co người lại như chưa quen với việc được ai chạm vào mà không xua đuổi. Tôi nhặt chiếc ly giấy nhàu và túi vải của bà lên. Bên trong túi chỉ có một chai nước còn nửa chai, vài gói bánh khô mềm oặt, một chiếc lược răng gãy và một chiếc khăn tay cũ đã bạc màu gần hết. Ở góc khăn, dưới lớp chỉ sờn, là chữ H thêu màu xanh nhạt.nnTim tôi như bị siết lại bằng dây thép.nn”Mẹ…” Lần đầu tiên từ ấy bật ra khỏi miệng tôi. Rất nhỏ. Nhưng bà nghe thấy.nnBà nhắm mắt. Hai hàng nước mắt lăn chậm qua những nếp nhăn sâu bên gò má. Bàn tay bà lần lên cổ tay tôi, chạm vào chiếc đồng hồ như sợ mình đang nằm mơ. Rồi bà lắc đầu liên tục.nn”Đừng gọi lớn. Mẹ bẩn lắm.”nnCâu đó đâm vào ngực tôi mạnh hơn mọi thứ khác trong ngày hôm ấy.nnTôi bảo con bé gọi tài xế. Con bé luống cuống lấy điện thoại từ túi váy. Nhưng trước khi xe đến, một giọng đàn ông chen từ phía đám đông vào.nn”Tôi biết bà này.”nnMọi người quay lại. Một người đàn ông tầm ngoài năm mươi, mặc áo bảo vệ của siêu thị gần đó, bước lên. Mồ hôi thấm đậm quanh cổ áo, bàn tay ông còn cầm chiếc mũ lưỡi trai cũ. Ông nhìn kỹ bà rồi nhìn tôi, ánh mắt vừa dè chừng vừa ái ngại.nn”Bà hay ngồi chỗ này gần tám tháng nay. Có lúc ngủ ở hiên chợ đêm. Tôi có cho bà hộp cơm vài lần. Bà không nhớ nhiều đâu, lúc nhớ lúc quên. Nhưng hễ ai hỏi quê quán, bà đều nói một câu giống nhau. Bà bảo bà phải đợi con trai đến đón.”nnTôi nuốt khan. Cổ họng rát như vừa nuốt phải bụi.nn”Ai đưa bà đến đây?” tôi hỏi.nnÔng bảo vệ cau mày. “Có lần tôi thấy một chiếc xe tải nhỏ thả bà ở đầu hẻm sau chợ. Hồi đó là khoảng 6:40 a.m., cách đây mấy tháng. Tôi tưởng người nhà chở bà đi khám rồi ghé đâu đó. Nhưng chiều quay lại đã thấy bà ngồi đây. Hôm sau vẫn thấy. Rồi tuần nào cũng vậy. Có bữa mưa lớn, bà ướt hết, tôi với cô lao công kéo bà vào mái hiên. Bà sốt mà không chịu đi bệnh viện. Cứ ôm chặt cái túi này.”nnTôi nhìn cái khăn tay trong tay mình. Chữ H gần như mờ hết, chỉ còn vài sợi chỉ nhạt lộ lên dưới ánh đèn đường vừa bật.nnCó nghĩa là mẹ không phải chỉ bị lạc.nnAi đó đã bỏ bà lại.nnXe đến sau chừng năm phút nhưng dài như nửa đời người. Tôi bế mẹ lên. Bà nhẹ đến đáng sợ. Xương vai nhô lên dưới lớp áo len cũ như hai mẩu gỗ khô. Mùi nắng bụi, mùi áo cũ, mùi da người già phơi ngoài đường hòa lẫn với mùi nước hoa còn sót trên cổ tay áo sơ mi tôi. Con bé ngồi sát mẹ ở hàng ghế sau, lấy chai nước nhỏ giọng bảo: “Bà uống chút đi.” Mẹ cầm chai bằng hai tay, run đến mức nắp chạm vào răng kêu lách cách.nnTôi đưa cả hai về căn hộ của mình.nnNgay khi cửa mở, luồng khí mát phả ra làm mẹ co rúm người, đôi mắt nheo lại như chưa quen với ánh sáng vàng dịu và mùi tinh dầu gỗ đàn hương trong nhà. Con bé lập tức chạy vào phòng lấy một tấm chăn mỏng màu kem, cái chăn nó hay đắp khi xem phim cuối tuần. Nó nhẹ nhàng phủ lên chân bà. Mẹ nhìn quanh phòng khách, mắt dừng lại ở bình hoa cúc trên bàn, kệ sách, chiếc đèn đứng, rồi dừng hẳn ở khung ảnh gia đình treo cạnh tivi.nnTrong ảnh có tôi, vợ tôi đã mất ba năm trước vì ung thư, và con bé khi mới lên sáu.nnMẹ đưa tay chạm vào tấm kính khung ảnh. “Con cưới rồi à?”nnTôi gật. “Vâng. Cô ấy mất rồi.”nnMẹ rụt tay lại rất nhanh, như sợ chạm phải nỗi đau của tôi. Bà cúi đầu. Một lát sau mới hỏi: “Con bé tên gì?”nn”Linh.”nnCon gái tôi bèn ngồi xổm xuống trước mặt bà, nghiêm túc giới thiệu: “Con là Linh. Con học lớp Bốn. Con thấy bà đầu tiên.” Nó ngập ngừng rồi chìa bàn tay ra. “Bà nội nắm tay con được không?”nnMẹ nhìn bàn tay nhỏ xíu ấy rất lâu. Rồi bà đặt tay mình vào tay con bé. Lần này, bà khóc thành tiếng.nnTôi gọi bác sĩ gia đình đến nhà. Ông khám sơ bộ rồi yêu cầu đưa mẹ vào bệnh viện ngay trong tối đó. Huyết áp thấp, suy dinh dưỡng nặng, mất nước, viêm phổi nhẹ và dấu hiệu sa sút trí nhớ do chấn thương cũ hoặc căng thẳng kéo dài. Trên cánh tay bà còn vài vết bầm xanh vàng đã cũ. Không phải mới một hai ngày.nnTôi đứng cạnh giường bệnh nhìn y tá cắm truyền. Ánh đèn trắng hắt lên làn da nhăn mỏng của mẹ. Tiếng máy đo nhịp kêu đều đều. Mùi sát trùng làm sống mũi tôi cay xè. Khi y tá kéo tay áo lên cao hơn, tôi thấy ở bắp tay phải của bà có một vết sẹo tròn nhỏ. Tôi biết vết đó. Hồi nhỏ, nồi canh nghiêng xuống tay bà khi bà kéo tôi ra khỏi bếp. Bà sẹo cả đời vì tôi.nnKhông cần thêm xét nghiệm nào nữa để tôi biết người trước mặt chính là mẹ mình. Nhưng tôi vẫn làm. Tôi cần câu trả lời cho mọi năm tháng bị cắt mất.nnBa ngày sau, khi sức khỏe mẹ đỡ hơn, ký ức của bà cũng sáng ra từng quãng ngắn. Không liền mạch. Có đoạn đứt, có đoạn trôi đi giữa chừng. Tôi ghi lại từng câu, từng tên, từng địa chỉ bà nhắc được. Từ những mảnh rời ấy, một câu chuyện bẩn thỉu dần hiện hình.nnNgày đó mẹ thực sự đã lên thành phố để đòi lại khoản tiền 12,000,000 đồng mà người em họ bên ngoại mượn để chữa bệnh cho con. Người này tên Hòa. Nhà hắn buôn đồ điện cũ ở quận ven. Khi gặp, Hòa không trả tiền. Hắn bảo làm ăn đang kẹt, giữ mẹ ở lại một đêm rồi hôm sau hứa chở đi tìm người khác có thể giúp đỡ. Mẹ kể hôm đó trời rất nóng, bà ăn một bát cháo rồi thấy đầu óc quay cuồng. Sau đó ký ức đứt đoạn.nnLúc nhớ lại được chút ít, bà đang ở trong một căn phòng lạ, cửa sổ đóng kín, mùi ẩm mốc và thuốc lá cũ bám đầy chăn chiếu. Hòa nói mẹ bị té đập đầu, giờ không nhớ nổi đường về. Hắn giữ giấy tờ, nói sẽ lo cho bà. Nhưng thật ra hắn bắt mẹ trông cháu, rửa chén, dọn hàng. Mẹ làm trong tình trạng đầu óc mù mờ suốt một thời gian dài mà không biết mình đang ở đâu. Khi bà nhớ được tên mình và đòi gọi điện, hắn nói cả nhà đã bỏ bà từ lâu. Có lần bà chạy ra đường, bị kéo về. Có lần hàng xóm nghe tiếng cãi nhau, nhưng rồi cửa lại đóng.nnNhững năm tiếp theo, Hòa chuyển chỗ ở liên tục. Hắn dùng mẹ như người giúp việc không công. Khi bà yếu đi, hay quên hơn, không làm nổi việc nữa, hắn chở bà ra khu chợ gần trung tâm rồi bỏ lại. Đó chính là góc vỉa hè nơi con gái tôi nhìn thấy bà.nnTôi nghe đến đâu, ngón tay siết mép bàn đến trắng bệch đến đó.nnTôi thuê luật sư ngay chiều hôm ấy.nnTên của Hòa không khó tìm. Người đàn ông đã từng mượn tiền mẹ tôi giờ sống trong căn nhà ba tầng mới sơn màu xám, trước cửa dựng hai chiếc xe máy tay ga, trong sân có giàn hoa giấy đỏ rực. Hắn không mở cửa khi thấy tôi và luật sư đứng ngoài cổng lúc 9:15 a.m. hôm sau. Nhưng camera chuông cửa đã ghi lại rất rõ khuôn mặt hắn chùng xuống khi tôi nói lớn tên mẹ.nnĐến lần thứ hai, khi công an khu vực đi cùng, cánh cổng mới bật mở.nnHòa thấp hơn tôi tưởng, bụng phệ, tóc chải bóng, trên cổ còn đeo sợi dây chuyền vàng. Vợ hắn đứng phía sau cánh cửa lưới, mặt tái đi. Mùi cà phê đen và cá kho từ trong nhà bay ra. Ngoài hiên, một đôi dép nữ cũ nằm lệch một chiếc, làm tôi nhớ đến cảnh mẹ có lẽ từng cúi xuống sắp dép cho cả nhà hắn mỗi sáng.nn”Anh hiểu lầm rồi,” Hòa nói rất nhanh, mắt không nhìn thẳng. “Chị ấy bị lẫn. Tôi cưu mang bao năm. Không có tôi, chị ấy chết ngoài đường lâu rồi.”nnLuật sư của tôi mở cặp hồ sơ, rút ra bản ghi bệnh án mới, ảnh chụp các vết bầm cũ, bản tường trình của bảo vệ siêu thị, của cô lao công, và cả lời khai sơ bộ của một hàng xóm cũ nơi hắn từng thuê trọ. Người hàng xóm ấy nhớ rõ nhiều lần nghe tiếng một bà lão khóc đòi về quê. Có lần còn thấy mẹ tôi bị khóa trái ngoài sân sau dưới mưa.nnTôi bước lên một bước. “Ông giữ bà ấy bao nhiêu năm?”nnHòa nuốt nước bọt. “Không ai giữ ai cả. Chị ấy không nhớ đường về.”nn”Vậy giấy tờ của bà đâu?”nnHắn im.nn”Tiền mẹ tôi đòi ông năm đó đâu?”nnHắn siết hàm. Trên trán bắt đầu nổi mồ hôi dù sáng hôm ấy trời không nóng lắm.nn”Chuyện cũ rồi.”nnTôi nghe chính giọng mình trả lời, thấp và phẳng đến lạnh người: “Không. Với bà ấy, nó kéo dài suốt hai mươi bảy năm.”nnVợ Hòa bật khóc trước. Bà ta thú nhận đã nhiều lần bảo chồng đưa mẹ tôi về quê hoặc báo công an, nhưng hắn không làm. Vì sợ bị phát hiện khoản tiền hắn đã lấy, sợ bị tố lừa gạt và sợ mất người làm không công. Khi bà yếu quá, hay lẫn quá, hắn chở đi bỏ. Bà ta còn chỉ nơi hắn cất chiếc túi nilon chứa giấy tờ cũ của mẹ tôi. Trong đó có căn cước đã quá hạn, một tờ giấy ghi địa chỉ quê nhà bằng nét chữ của chính mẹ và biên nhận khoản vay năm xưa có chữ ký Hòa.nnTôi nhìn chiếc căn cước cũ, ảnh mẹ còn đầy đặn, mái tóc vấn gọn, ánh mắt nghiêm nghị và sáng. Tấm thẻ mỏng nhẹ ấy nằm trong túi nilon dính bụi như một mảnh đời bị ép phẳng rồi quên lãng ở góc tủ.nnHòa bị mời về trụ sở ngay trưa hôm đó.nnTôi không thấy nhẹ đi ngay lập tức như người ta vẫn tưởng khi kẻ có lỗi bắt đầu trả giá. Có những cơn giận không bùng lên thành tiếng. Nó đọng lại như cát mịn giữa kẽ răng, khiến mỗi lần ngậm miệng đều nghe rít. Tôi ngồi trong xe rất lâu trước khi nổ máy về bệnh viện. Trên ghế phụ là chiếc túi vải xanh của mẹ và cái khăn tay thêu chữ H. Mùi nắng từ sân nhà Hòa vẫn còn bám trên quai túi.nnNhững ngày sau đó, mọi thứ diễn ra vừa chậm vừa dữ dội. Mẹ được chuyển sang phòng điều trị tốt hơn. Con bé ngày nào cũng tranh tô cháo với điều dưỡng để đút bà ăn. Nó mang đến một chiếc kẹp tóc màu hồng, nói bà nội đeo vào sẽ đẹp hơn. Mẹ cười, nụ cười mỏng nhưng thật. Mỗi lần tỉnh táo hơn, bà kể thêm một chút. Có khi là chuyện chiếc nồi nhôm cũ ở quê. Có khi là bài đồng dao tôi hay hát sai lúc nhỏ. Có khi là món trứng hấp mà chỉ bà biết tôi ghét hành nên luôn gạt riêng một phần không bỏ hành cho tôi. Những mảnh ký ức ấy khớp với nhau không sai một chỗ nào.nnTôi làm lại bàn thờ cho bà ngoại ở nhà. Dọn một căn phòng hướng nắng sớm cho mẹ. Thay rèm cửa màu dịu hơn vì bà sợ ánh sáng gắt. Mua một đôi dép mềm vì chân bà mỏng, da dễ trầy. Chiều thứ bảy đầu tiên sau khi mẹ xuất viện, tôi ngồi chải tóc cho bà ngoài ban công. Gió lùa qua những chậu hương thảo. Thành phố dưới kia vẫn ồn, vẫn gấp, vẫn sáng nhấp nháy những bảng hiệu và dòng xe nối nhau vô tận. Mẹ ngồi im, lưng bớt co hơn trước, bàn tay đặt trên đầu gối, cổ tay trái lộ ra vết bớt hình chiếc lá.nn”Mẹ tưởng con quên mẹ rồi,” bà nói rất khẽ.nnTôi dừng lược giữa chừng. Cổ họng nghẹn cứng. Rồi tôi cúi xuống, đặt trán lên vai bà.nn”Con chưa từng thôi đợi.”nnBà không đáp ngay. Chỉ đưa tay vuốt tóc tôi như ngày tôi còn nhỏ, chậm và vụng hơn xưa vì các ngón tay giờ đã run. Nhưng chỉ cần vậy thôi, mọi khoảng trống kéo dài suốt hai mươi bảy năm trong tôi như được lấp lại từng chút một.nnVụ việc của Hòa sau đó không chìm xuống. Bản tường trình, hồ sơ điều trị, lời khai hàng xóm và camera quanh khu chợ đủ để mọi thứ đi tiếp. Người quen bên ngoại gọi dồn dập. Có người xin lỗi. Có người thanh minh rằng ngày ấy họ cũng bị hắn lừa. Tôi không trả lời nhiều. Tôi không cần một cuộc tranh cãi muộn màng. Tôi chỉ giữ chặt những thứ đã tìm lại được.nnMột buổi sáng đầu tháng sau, lúc 6:05 a.m., tôi đi ngang phòng mẹ và thấy cửa khép hờ. Nắng rất sớm còn nhạt màu mật ong trên sàn gỗ. Mẹ đã dậy, ngồi bên cửa sổ, mặc chiếc áo len mới con bé chọn, hai tay ôm một ly trà gừng bốc hơi mỏng. Trên bệ cửa là chậu lan ý nhỏ, cạnh đó đặt chiếc khăn tay chữ H đã được giặt sạch, xếp phẳng phiu. Con bé vẫn còn ngủ, ôm con gấu bông ngoài phòng khách sau đêm đòi nằm canh bà nội.nnMẹ quay đầu lại nhìn tôi. Không nói gì. Chỉ mỉm cười.nnDưới đường, thành phố bắt đầu thức dậy bằng tiếng xe giao hàng, tiếng quét rác và tiếng cửa cuốn mở lên từng lớp. Nhưng trong căn phòng nhỏ ngập mùi trà gừng ấy, có một thứ cuối cùng cũng trở về đúng chỗ của nó: người đàn bà từng biến mất trên chuyến xe năm nào, giờ ngồi bên cửa sổ nhà tôi, dưới ánh sáng dịu đầu ngày, với chiếc khăn cũ của bà ngoại và vết bớt hình lá khô nằm yên trên cổ tay trái.

Read More