Ngón tay thằng cả dừng lại ở mép giấy lâu đến mức cả hội trường nghe rõ tiếng điều hòa thổi qua dãy đèn pha lê trên trần. Tờ giấy hơi rung trong tay nó. Ánh đèn vàng hắt xuống làm hàng chữ cuối cùng hiện lên rõ như một vết cắt. Người phụ nữ đứng giữa lối đi vẫn giữ nguyên cằm ngẩng cao, nhưng nụ cười trên môi đã mỏng đi một chút.
Con trai tôi ngẩng đầu lên trước. Rồi nó nhìn sang em gái. Rồi nhìn đứa út vẫn còn cầm micro trên sân khấu. Ba đứa không nói ngay. Chỉ có tiếng giày của phục vụ khựng lại ở góc phòng, mùi hoa ly nồng hơn vì không ai còn chạm vào ly rượu hay thức ăn trên bàn.
“Trang này,” nó nói, giọng thấp, khô, “là giấy từ bỏ toàn bộ quyền liên quan đến ba anh em tôi. Có công chứng. Có chữ ký của bà. Ngày ký là 17 tháng 8, 30 năm trước.”
Một vài cái đầu trong hội trường quay hẳn về phía người phụ nữ.
Bà ta đưa tay ra rất nhanh.
Thằng cả không đưa. Nó lật tờ giấy lại, ngón tay giữ chặt vào góc dưới cùng, nơi có vết mực cũ đã ngả màu nâu nhạt.
“Tự nguyện rời khỏi nơi cư trú. Từ bỏ quyền nuôi dưỡng, thăm nom, đại diện và mọi yêu cầu tài sản phát sinh từ quan hệ với các con về sau.”
Mỗi chữ nó đọc lên rơi xuống sàn như kim loại. Không lớn tiếng. Không gằn giọng. Càng bình tĩnh, cả phòng càng im hơn.
Người phụ nữ bước thêm một bước, gót giày chạm nền đá thành một tiếng cộc sắc lạnh.
Đứa con gái thứ hai của tôi đứng dậy. Nó mặc bộ váy xanh đậm, tóc búi thấp, cổ tay còn giữ chiếc vòng bạc tôi mua năm nó đỗ đại học, chỉ đáng 320 nghìn nhưng nó đeo suốt nhiều năm. Nó không nhìn người đàn bà kia ngay. Nó kéo chiếc ghế ra khỏi bàn, âm thanh chân ghế cào trên sàn khiến vài người rùng mình.
“Bị ép?” nó hỏi.
Mùi nước hoa trong phòng như đặc hơn. Người phụ nữ chớp mắt một lần. “Đúng.”
Con gái tôi quay hẳn người lại, đối diện bà ta giữa lối đi.
“Bị ép đến mức để lại ba đứa trẻ, đứa nhỏ nhất mới 3 tháng, rồi biến mất suốt 30 năm?”
Không ai xen vào. Một người đàn ông bàn đầu cầm điện thoại lên rồi lại hạ xuống, như sợ tiếng thông báo sẽ cắt ngang thứ đang diễn ra trước mắt.
Tôi vẫn đứng cạnh ghế, tay đặt trên lưng ghế. Gỗ ghế mát lạnh. Ở khoảng cách đó, tôi nhìn thấy một sợi tóc bạc rất nhỏ ở thái dương người phụ nữ. Thời gian đã đi qua bà ta, nhưng không để lại lấy một dấu vết mềm đi trong mắt.
Đứa út đặt micro xuống chân đế. Tiếng kim loại chạm nhau nhỏ mà vang. Nó bước xuống hai bậc sân khấu, bộ vest sẫm màu làm vai nó trông rộng hơn hẳn thằng bé ngày xưa hay ôm cổ tôi ngủ gục mỗi chiều mất điện.
Nó dừng lại trước mặt người phụ nữ.
Người phụ nữ hơi thở mạnh hơn một nhịp, như vừa tìm được khe cửa để bước tiếp.
“Tài sản hình thành từ gia đình này. Tên tuổi, công ty, nhà đất. Tôi là mẹ ruột của các anh chị.”
Đứa út gật đầu rất khẽ.
“Ruột thịt thì có. Nhưng gia đình?”
Bà ta siết quai túi xách. “Tôi sinh các anh chị ra.”
Câu nói ấy làm người phụ nữ khựng lại rõ ràng lần đầu tiên từ lúc bước vào.
Ở phía sau, ai đó khẽ hít vào. Tiếng ly chạm đĩa rất nhỏ từ bàn cuối cùng cũng im bặt.
Con trai cả lật thêm một trang mỏng kẹp phía sau. “Còn cái này nữa.”
Nó giơ lên cao vừa đủ để luật sư ngồi ở bàn khách mời nhìn thấy con dấu tròn màu đỏ. “Biên nhận số tiền 12 triệu đồng bà nhận khi rời đi. Nội dung ghi rõ: nhận đủ, không tranh chấp, không quay lại yêu cầu cấp dưỡng hay tài sản về sau.”
Môi son đỏ trước mặt tôi mím lại.
“12 triệu thì đáng gì?” bà ta bật ra.
Lúc đó, lần đầu tiên tôi nhìn thẳng vào bà ta và cất tiếng.
Không lớn. Không nặng. Nhưng ở khoảng lặng sau câu đó, ngay cả tiếng máy lạnh trên trần cũng nghe như lùi xa hơn.
Bà ta xoay về phía tôi, hai mắt nhỏ lại. “Ông nghĩ ông cao thượng lắm sao? Một mình nuôi con rồi giờ muốn cướp luôn quyền của người mẹ?”
Tôi không bước tới. Chỉ đứng yên. Cổ tay áo sơ mi vừa kéo thẳng ban nãy giờ lại nhăn ở nếp gấp cũ.
“Quyền không nằm trên giấy khai sinh,” tôi nói. “Nó nằm ở 1:40 sáng khi một đứa sốt, 2:15 sáng khi đứa khác ho đến tím mặt. Nằm ở những lần phải chọn mua thuốc hay mua sữa. Nằm ở 86 nghìn trong túi và ba cái bụng đang chờ ăn.”
Không ai động đũa. Không ai ngồi xuống.
Bà ta bật cười rất ngắn, sắc như mép kính.
“Ông muốn diễn trước mặt mọi người?”
Đứa con gái tôi bước hẳn lên trước một bước nữa. “Không. Bà mới là người bước vào đêm tri ân cha tôi để tính tiền.”
Người phụ nữ quay phắt sang nó. “Tao là mẹ mày.”
Con bé không né ánh mắt ấy.
“Năm em út mọc chiếc răng đầu tiên, bà ở đâu?”
Bà ta im.
“Năm anh cả sốt co giật phải bế chạy bộ ra trạm xá vì nhà mình không có nổi 40 nghìn đổ xăng, bà ở đâu?”
Bà ta hất mặt. “Tôi có lý do của tôi.”
Con bé gật đầu. “Cha tôi cũng có hàng ngàn lý do để bỏ cuộc. Nhưng ông ấy không đi.”
Tôi nhìn vai con gái mình. Bờ vai ấy từng ngủ gục trên bàn học lớp 12 lúc 3:07 sáng, ngón tay còn dính mực xanh. Nó từng mặc áo mưa cũ của tôi đi học những ngày gió lùa qua ngõ. Giờ đây nó đứng giữa hội trường, thẳng lưng, bàn tay đặt nhẹ lên thành ghế như thể đang giữ thăng bằng cho cả căn phòng.
Con trai cả rút điện thoại ra. Màn hình sáng lên dưới ánh đèn. “Tôi là luật sư đại diện cho cha tôi trong toàn bộ hồ sơ tài sản cá nhân và ủy quyền liên quan đến các công ty gia đình. Tất cả những gì bà vừa nêu không có cơ sở. Không một cổ phần nào đứng tên bà. Không một tài sản nào hình thành từ phần đóng góp của bà. Không một khoản nào cha tôi hay chúng tôi có nghĩa vụ chia.”
Bà ta cười khẩy, nhưng tiếng cười không còn tròn nữa. “Các người nghĩ vài tờ giấy là đủ chặn tôi?”
“Không,” thằng cả đáp. “Còn nhân chứng.”
Nó nghiêng đầu về phía bàn khách mời. Một cụ bà tóc bạc, dáng gầy nhưng lưng thẳng, chậm rãi đứng lên. Tôi nhận ra ngay. Bà Hảo, người hàng xóm cũ, nay đã hơn tám mươi, người bế đứa út cho tôi đi làm ca đêm mấy tháng trời và là người ngồi cùng khi giấy tờ được ký năm đó.
Bà cụ chống gậy bước ra giữa lối đi. Gậy gõ xuống sàn thành tiếng khô giòn.
“Tôi ký vào phần người làm chứng,” bà nói. “Hôm đó cô xách túi đi trước khi trời sáng, còn quay lại hỏi tôi xem 12 triệu có đủ mua chiếc nhẫn vàng mới không.”
Một tiếng xì xào nhỏ nổi lên rồi chạy dọc cả hội trường.
Người phụ nữ quay sang, mặt trắng bệch từng mảng.
“Bà già rồi. Bà nhớ nhầm.”
Bà Hảo không đổi nét mặt. “Tôi còn nhớ cô để đứa nhỏ nằm võng mà không đắp khăn. Tôi phải chạy sang kéo lại.”
Đứa út đưa tay lên vuốt mặt một lần. Rồi nó nhặt lại micro. Không nói vào loa. Chỉ cầm trong tay như cầm một vật từng thuộc về buổi tối đẹp đẽ ban đầu.
“Từ nãy đến giờ,” nó nói, “không ai trong ba anh em tôi gọi bà là mẹ.”
Người phụ nữ mở miệng, nhưng nó giơ tay chặn lại.
“Đừng chen vào. Suốt ba mươi năm, chúng tôi không thiếu một danh xưng. Chúng tôi chỉ thiếu một người. Mà người đó không còn ở đây từ 5:12 sáng hôm bà bỏ đi.”
Ở bàn gần sân khấu, có tiếng ai đó thở dài rất khẽ. Mùi bơ từ món ăn chưa dùng đến bắt đầu nguội đi trong khay hâm nóng, quện với mùi rượu nho và mùi hoa ly nồng đến nhức đầu.
Người phụ nữ chợt đổi giọng. Mềm hơn. “Mẹ sai. Nhưng máu mủ là máu mủ. Các con không thể đối xử với mẹ như thế.”
Con gái tôi bật cười một tiếng, nhưng mắt nó không cười.
“Bà biết sinh nhật con là ngày nào không?”
Im lặng.
“Bà biết cha con bị thoái hóa cột sống năm nào vì vác hàng quá sức không?”
Im lặng.
“Bà biết em út dị ứng thuốc gì không?”
Im lặng.
Mỗi câu hỏi như một cánh cửa đóng lại. Chậm. Dứt khoát.
Con trai cả rút từ cặp da một phong bì mỏng màu kem. “Đây là thư cảnh báo về hành vi vu khống, gây rối sự kiện và đòi hỏi tài sản không có căn cứ. Nếu bà tiếp tục, sáng mai chúng tôi nộp đơn.”
Bà ta giật lấy phong bì. Móng tay run rất nhẹ. Gương mặt được trang điểm kỹ bắt đầu lộ những đường nhăn ở khóe mắt khi son môi không còn che nổi sự co giật quanh miệng.
“Chúng mày đuổi tao?”
Đứa út nhìn thẳng vào bà ta. “Không. Chúng tôi chỉ không mời bà ở lại.”
Rồi nó xoay sang tôi. “Ba.”
Chỉ một tiếng đó. Nhưng tôi nghe trong đó cả tuổi thơ của ba đứa, cả những buổi chiều mất điện, cả mùi mồ hôi trên vai áo sau ca bốc vác, cả tiếng dép lẹp xẹp trong sân mỗi ngày tan làm.
“Ba về thôi.”
Tôi gật đầu.
Người phụ nữ bước chặn ngang. “Các người không thể làm thế với tôi. Tôi đã mang nặng đẻ đau. Tôi là mẹ ruột của các người.”
Con trai cả khép tập hồ sơ lại. “Người đẻ ra chúng tôi ở trên giấy. Người nuôi chúng tôi thành người đang đứng ở đây.”
Tôi thấy bàn tay người phụ nữ siết chặt đến mức gân nổi lên dưới lớp phấn. Bà ta nhìn từng đứa con, như chờ một kẽ nứt. Không có. Ánh mắt ấy lướt đến tôi lần cuối, sắc, lạnh, và trống.
“Rồi các người sẽ hối hận.”
Tôi kéo ghế lại ngay ngắn vào bàn. “Bà về đi.”
Chỉ thế.
Không ai giữ. Không ai tiễn. Gót giày nhọn quay lại lối cũ, nhưng nhịp không còn đều như lúc bước vào. Đến giữa cửa, bà ta vấp rất nhẹ vào mép thảm. Một tay chụp lấy khung cửa mới đứng vững. Không ai chạy tới.
Cánh cửa hội trường khép lại sau lưng bà ta bằng một tiếng nặng và kín.
Ba đứa con tôi vẫn đứng yên vài giây. Rồi con gái tôi quay sang ôm lấy vai tôi trước. Đứa út chạm một tay lên lưng tôi. Thằng cả, đứa vẫn luôn kiệm động tác từ nhỏ, đưa tập hồ sơ cho luật sư khách mời rồi bước tới đứng sát bên kia. Bốn người đứng giữa đèn vàng, mùi hoa ly, tiếng thìa nĩa còn bỏ dở, như một cụm im lặng không thứ gì chen vào được.
Đêm đó, lễ vinh danh không tiếp tục như cũ nữa. Không ai còn tâm trí nghe phát biểu. Nhưng từng vị khách đi ngang qua bàn tôi đều dừng lại một chút. Có người siết tay. Có người chỉ cúi đầu. Có người để lại danh thiếp, nói nếu cần làm chứng về việc gây rối, họ sẽ có mặt. Một nhà báo địa phương xin phép không chụp thêm hình. Cô ấy cất máy vào túi và chỉ nói: “Tối nay chú không cần thêm ánh đèn nào nữa.”
Về đến nhà là 11:48 đêm. Căn nhà cũ vẫn đứng đó sau lần sửa cuối cùng, mái tôn đã thay, tường quét lại màu kem nhạt, nhưng chiếc bàn gỗ năm xưa tôi vẫn giữ trong góc bếp. Vết mẻ ở miệng chén sứ cũ vẫn còn. Tôi sờ lên chỗ sứ nhám lạnh ấy một lúc.
Ba đứa con đi theo sau. Đứa út mở tủ lấy bình nước ấm. Con gái tôi trải lại tấm khăn lên vai ghế cho tôi theo thói quen cũ. Con trai cả đặt tập hồ sơ xuống bàn, cách đúng vị trí tờ giấy năm đó từng nằm.
“Ba ngủ đi,” con gái nói.
Tôi ngồi xuống ghế. Gỗ kêu lên một tiếng nhẹ. Ngoài sân, gió khuya thổi qua hàng chuối làm lá chạm nhau xào xạc. Mùi gạo mới từ thùng đựng gần bếp thoảng lên, rất giống những năm cũ nghèo đến mức trong nhà chỉ còn thứ mùi đó để biết mình vẫn còn cái ăn cho ngày mai.
Con trai cả không đi ngủ ngay. Nó ở lại, mở tập hồ sơ thêm lần nữa. Dưới ánh đèn bếp màu vàng nhạt, mặt nó trông già hơn tuổi. “Sáng mai con nộp đơn yêu cầu cấm quấy rối. Bà ấy đã liên lạc với một người môi giới pháp lý từ hai tuần trước. Con tra được lịch hẹn chiều nay.”
Tôi nhìn nó.
“Hai tuần trước?”
Nó gật đầu. “Con đoán bà ấy trở lại không phải ngẫu nhiên. Chắc thấy tin về lễ vinh danh, về công ty của em út, về giải thưởng. Bà ấy nghĩ gia đình mình sẽ ngại ồn ào nên nhượng bộ.”
Đứa út dựa vào khung cửa bếp, tháo cúc tay áo. “Bà ấy nhìn nhầm người.”
Con gái tôi đặt cốc nước xuống trước mặt tôi. “Cha nuôi tụi con ba mươi năm không phải để tụi con đứng im nhìn người ta bước vào tính sổ với cha.”
Không ai nói thêm. Chỉ có tiếng nước nóng trong ấm còn âm ấm, thỉnh thoảng bật một tiếng lách tách nhỏ.
Sáng hôm sau, lúc 8:16, thằng cả rời nhà cùng cặp hồ sơ. Mùi cà phê pha phin còn đọng trên bàn. Đứa út lái xe đưa em gái đến công ty rồi quay sang văn phòng luật. Còn tôi ở lại sân trước, cầm vòi nước tưới hàng rau nhỏ sát tường. Nước bắn lên lá cải thành những giọt sáng. Nắng sớm chạm vào nền xi măng còn mát.
Đến 10:32, điện thoại tôi rung.
Con trai cả gọi.
“Xong rồi, ba.”
Giọng nó đều, nhưng tôi nghe rõ tiếng giấy sột soạt và bước chân ngoài hành lang tòa nhà phía đầu dây. “Chúng con nộp đơn cảnh báo pháp lý, kèm giấy cam kết cũ, biên nhận, lời khai nhân chứng và video tối qua từ camera hội trường. Bà ấy vừa rời văn phòng người đại diện.”
“Bà ấy nói gì?” tôi hỏi.
Một khoảng lặng rất ngắn.
“Không nói được nhiều. Người đại diện của bà ấy đọc hồ sơ xong thì từ chối tiếp tục.”
Tôi tắt vòi nước. Một con chim sẻ đáp xuống mép chum, nghiêng đầu nhìn mặt nước rồi bay đi.
Buổi chiều, khoảng 3:05, có người gõ cổng. Không mạnh. Ba tiếng, ngắt quãng. Tôi bước ra. Ngoài cổng là người đưa thư và một phong bì dày gửi từ thành phố bên kia. Bên trong là bản photocopy giấy tờ cũ bà ta gửi lại, không kèm lời nhắn. Chỉ thiếu mỗi một thứ: bản yêu cầu 18 tỷ đồng tối qua. Nó đã bị rút khỏi hồ sơ.
Tối đó, ba đứa con về sớm. Không ai nhắc đến bà ta trước bữa cơm. Con gái tôi kho cá, đứa út rửa rau, thằng cả bày bát đũa. Mùi tiêu, mùi hành phi, mùi canh nóng bốc lên làm gian bếp nhỏ phủ một lớp hơi nước mỏng. Những thứ đơn giản đó đi qua bao nhiêu năm vẫn đủ lấp đầy nhà.
Ăn xong, đứa út mang từ xe vào một khung ảnh mới làm. Nó đặt lên bàn rồi lùi ra.
Trong ảnh là tấm chụp tại hội trường trước khi cánh cửa mở. Tôi ngồi giữa. Ba đứa con đứng sau vai, mỗi đứa một tay chạm nhẹ vào ghế. Cả bốn đang cười. Không có khoảng trống nào trong khung hình dành cho người đến muộn.
“Đổi ảnh ở phòng khách đi ba,” nó nói.
Tôi cầm khung ảnh. Gỗ mới còn mùi sơn nhè nhẹ. Mặt kính mát dưới đầu ngón tay. Phòng khách bên kia tường vẫn treo những tấm hình cũ theo từng năm học, từng lần tốt nghiệp, từng ngày sinh nhật. Trong tất cả những tấm hình đó, như caption của buổi lễ đã nói, tôi đều ngồi ở giữa. Giờ tấm mới này cũng vậy.
Đêm xuống chậm. Điện ngoài sân bật lên, hắt quầng sáng vàng qua cánh cửa lưới. Tôi đem khung ảnh đặt lên kệ giữa phòng khách, ngay cạnh chiếc đồng hồ cũ đã đứng cùng căn nhà hơn hai mươi năm. Kim giây chạy từng nhịp nhỏ. Trong bếp, ba đứa con còn nói chuyện lẫn tiếng nước rửa bát. Không lớn. Không vội. Cứ như cả ngày hôm nay chỉ là một cơn gió mạnh vừa đi ngang, không lay nổi móng nhà.
Trước khi ngủ, tôi đi một vòng tắt bớt đèn. Qua góc bếp, mắt tôi chạm vào chiếc bàn gỗ cũ. Trên mặt bàn, dưới ánh đèn còn sót lại, tập hồ sơ đã được buộc dây gọn gàng nằm đúng chỗ ngày xưa từng có tờ giấy gấp làm đôi. Không còn dòng chữ “Đừng tìm tôi.” Không còn bình sữa còn ấm. Không còn tiếng quạt trần khô khốc của buổi 5:12 sáng năm nào.
Chỉ còn một khung ảnh mới ngoài phòng khách, nơi ba đứa con trưởng thành đứng sau lưng tôi dưới ánh đèn vàng, và phía sau lớp kính trong veo ấy, không có bóng dáng của người đã bỏ đi nữa.