Bà lão giàu có cứu tôi giữa đêm — rồi cánh cửa tầng ba mở ra, để lộ chính tôi-yumihong

“Đừng la.”

Hơi thở của bà Regina lướt qua gáy tôi, lạnh hơn cả luồng khí tràn ra từ căn phòng khóa kín. “Người nằm trên giường là chị em sinh đôi của cô.”

Tôi quay phắt lại. Chiếc máy phát nhạc ngoài hành lang vẫn kéo bản ru méo tiếng, từng nốt mỏng như kim châm vào da. Bà đứng rất gần, áo cashmere màu kem hoàn toàn không xộc xệch, bàn tay vẫn giữ chùm chìa khóa đồng cũ. Rồi bà nói câu khiến hai đầu gối tôi như rỗng ruột.

Image

“Và người đuổi cô khỏi nhà trọ lúc 11:43 p.m. nhận $500 từ tôi.”

Tôi không hét. Miệng tôi mở ra, nhưng cổ họng chỉ bật được một hơi gió khô rát. Trên giường, cô gái mang gương mặt của tôi nằm im dưới tấm chăn trắng, cổ tay đeo vòng tên, lồng ngực nâng lên rất khẽ theo nhịp máy thở đặt sát tường. Mùi thuốc sát trùng và hoa loa kèn trắng ép sát vào ngực tôi đến mức buồn nôn.

“Bà mua cả đêm mưa đó?” Tôi nghe giọng mình bật ra, mỏng và cứng như thủy tinh nứt.

“Ta mua một cơ hội để đưa cô vào nhà trước khi họ tìm thấy cô.”

“Tôi đâu biết bà là ai.”

“Nhưng họ biết.”

Bà khép cửa lại. Tiếng chốt đồng ăn vào khe cửa nghe nhỏ, gọn, và lạnh. Tôi không còn nhìn thấy cô gái trên giường nữa, nhưng cái hình ảnh ấy vẫn nằm nguyên ở sau mắt — nốt ruồi dưới mắt trái, vết xước nhỏ dưới cằm, bàn tay trái có đúng vệt trầy non như tay tôi.

Bà dẫn tôi xuống thư viện ở tầng một. Căn phòng nồng mùi gỗ tuyết tùng, da thuộc cũ và trà đen. Mưa gõ lên cửa kính cao vút thành một lớp âm thanh dày như vải. Trên bàn, bà đặt xuống một tập hồ sơ buộc ruy băng bạc, một tấm ảnh bệnh viện ố màu, và một chiếc vòng sơ sinh bằng nhựa đã ngả vàng.

Trong tấm ảnh là một người phụ nữ trẻ hơn bà bây giờ rất nhiều, nằm trên giường bệnh, tóc dính mồ hôi lên thái dương, còn trong tay là hai đứa bé quấn hai màu khăn khác nhau. Khuôn mặt bà khi đó mềm hơn, sáng hơn. Ở góc ảnh, có một người đàn ông cao gầy mặc vest đen đứng quay nghiêng, bàn tay đặt lên thành giường. Tôi nhìn kỹ. Nét nghiêng ấy sắc như lưỡi dao và hoàn toàn không có chút ấm nào.

“Chồng ta, Conrad Ashford,” bà nói. “Ông ấy nợ $2.4 million vào mùa đông năm cô chào đời.”

Tôi nhìn chiếc vòng sơ sinh. Trên đó vẫn còn đọc được một chữ tên viết tay bằng mực mờ: Elena.

Đầu ngón tay tôi chạm vào mép nhựa. Lạnh. Nhẹ. Thứ nhẹ đến vô lý so với cái sức nặng đang đè lên vai tôi.

Tôi lớn lên ở Nhà Trẻ Saint Martha, nơi hành lang luôn ám mùi cháo loãng, nước tẩy và chăn phơi chưa khô. Hồ sơ của tôi chỉ có một tờ giấy photocopy mờ nhòe, ghi rằng tôi được đưa đến cổng sau vào lúc 4:10 a.m. khi mới 11 ngày tuổi. Không tên cha. Không tên mẹ. Chỉ có một cái tên viết bằng bút bi xanh ở ô đầu tiên: Elena Vale. Sơ Maria từng nói tôi được quấn trong chiếc khăn bệnh viện quá đẹp để thuộc về khu nhà tôn mục nát phía sau nhà trẻ. Bà ấy còn kể, trong ba đêm đầu, tôi không ngủ nếu không nghe một bản ru không lời mà chẳng ai biết xuất phát từ đâu. Bà phải gõ muỗng vào thành ly thủy tinh theo đúng nhịp thì tôi mới nín.

Tôi đi qua bốn nhà nuôi dưỡng trước năm mười sáu tuổi. Một nhà khóa tủ lạnh bằng dây xích. Một nhà bắt tôi lau bếp đến 1:00 a.m. rồi sáng 5:30 đã đạp cửa gọi dậy. Một nhà giữ lại toàn bộ tiền lương ở tiệm bánh vì bảo tôi ăn ở đã là may. Đến năm hai mươi ba tuổi, tôi dọn vào căn trọ trong con hẻm có quán phở đầu ngõ, làm hai ca ở tiệm làm móng rồi rửa bát buổi tối để dành tiền học lớp trợ lý điều dưỡng. Tôi luôn nghĩ cuộc đời mình tệ theo một cách rất bình thường: không ai chọn mình, nên mình tự nhặt từng mẩu ngày sống mà đi tiếp.

Tôi chưa từng nghĩ cái khoảng trống trong hồ sơ sinh đó có hình mắt, hình miệng, hình gò má của chính mình nằm trên một chiếc giường sắt trong biệt thự người lạ.

“Tại sao lại là hai Elena?” Tôi hỏi.

Bà Regina rót trà. Nước trà màu hổ phách run nhẹ trong cốc sứ mỏng. “Conrad giữ nguyên tên trên thẻ bệnh viện để việc chuyển hồ sơ không lộ. Ông ấy bán một đứa bé, không cần biết cái tên đó sẽ đi đâu. Người môi giới đổi họ, không đổi tên.”

Móng tay tôi bấu xuống tay ghế. “Bà biết từ bao giờ?”

“Chín tháng trước.”

“Chín tháng?”

“Sau khi Conrad chết.” Bà đặt một cuốn sổ da đen trước mặt tôi. “Trong két sắt gắn sau bức tranh phòng thay đồ của ông ấy có khoản chuyển $75,000 cho bác sĩ Benedict Sloane, một giấy báo tử giả, và biên nhận từ một tổ chức môi giới nhận trẻ sơ sinh. Ta đã nghĩ một con gái của ta chết trong bệnh viện. Sự thật là nó bị bán đi khi ta còn mê thuốc giảm đau.”

Mưa ngoài cửa nặng hơn. Tiếng hạt nước đập xuống kính nghe như ai đó rải sỏi. Tôi nhìn bà rất lâu. Gương mặt ấy đẹp theo kiểu đã quen với việc người khác phục tùng, nhưng ngay dưới mắt trái có quầng thâm mỏng không lớp phấn nào che hết.

“Còn cô gái trên giường?”

“Con gái ta. Elena Ashford.”

Bà nuốt chậm, cổ họng di chuyển một lần. “Sáu tuần trước, nó tìm thấy bản sao hồ sơ trong phòng làm việc của cha nó. Nó đòi đưa mọi thứ cho cảnh sát và đòi tìm cô ngay trong tuần đó. Tối hôm sau, nó ngã ngay trên cầu thang phía tây sau ly sữa do bác sĩ Sloane kê thêm thuốc an thần. Không gãy xương. Không chấn thương sọ não nặng. Chỉ không tỉnh lại.”

Tôi không chạm vào cốc trà. Mùi bergamot bốc lên ấm và đắng. “Bà nói là họ?”

“Benedict Sloane và Adrian Voss.”

Tên thứ hai được bà nói ra còn lạnh hơn tên thứ nhất.

“Adrian là cháu trai Conrad. Hiện giữ quyền pháp lý tạm thời với quỹ Ashford trị giá $14.6 million. Nếu Elena Ashford bị tuyên bố mất năng lực dài hạn, hắn sẽ điều hành quỹ, bán khu đất phía đông, và chôn luôn những gì Conrad đã làm. Hắn tin đứa trẻ bị bán đã biến mất trong giấy tờ quận từ lâu.”

Tôi nhìn xuống tay mình. Mấy vệt da nhăn trắng do nước mưa đã khô từ khi nào. Bà Regina đã theo dõi tôi. Bà trả tiền cho chủ trọ để đẩy tôi ra đường. Bà đón tôi bằng súp nóng, khăn tay sạch và một hợp đồng viết bằng mực đen. Cả lòng tốt lẫn cú cứu mạng đêm đó đều có dây kéo phía sau.

“Vậy nên bà dàn cảnh.”

“Ta không còn thời gian.”

Read More